Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

Tin mới: Ðạo Diễn Song Chi xin tỵ nạn chính trị tại Na uy










Nữ Đạo diễn Song Chi, đạo diễn cho bộ phim Nữ Bác Sĩ dài 18 tập của hãng TFS được rất nhiều người mến mộ, từng được trình chiếu trên HTV7 vào các ngày Chủ nhật, thứ 2 và thứ 3 hàng tuần đã đào thoát sang Na uy để tỵ nạn chính trị.

Được biết đạo diễn Song Chi đã bị cảnh cáo và bị cắt tất cả hợp đồng tại các hãng phim Quốc doanh và Đài truyền hình VN sau khi tham gia cuộc biểu tình chống Trung quốc trong vụ rước đuốc Olympic Bắc kinh 2008 của các nhà báo trong câu lạc bộ các nhà báo tự do.

Đạo diễn Song Chi đã treo Blast chào tạm biệt Sài gòn và tất cả mọi người trên blog của mình

22.04.09 TAM BIET SAI GON-VIET NAM! TAM BIET TAT CA BAN BE, NGUOI QUEN VA CA NGUOI DUNG... CO LE SE CON LAU LAM MOI GAP LAI...MONG TAT CA MOI NGUOI DUOC BINH AN!




Như vậy là những thủ đoạn của nhà cầm quyền Việt nam đã đẩy nữ đạo diễn Song chi vào bước đường cùng, muốn tồn tại chỉ còn cách đào thoát sang một nơi mà quyền con người chắc chắn không chỉ là được ăn được sống và làm việc như một con vật nuôi !

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2009

Kỹ sư Đỗ Nam Hải gặp Đ/S Hoa Kỳ- Ông Michael Michalak


Vào lúc 11 giờ 30 trưa, ngày thứ tư, 6/5/2009, kỹ sư Đỗ Nam Hải, thành viên Ban điều hành Khối 8406 và Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam đã có cuộc gặp gỡ với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam - ông Michael Michalak. Địa điểm của cuộc gặp gỡ là quán cafe Lối Về - số 438 đường Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Nơi đây chỉ cách nhà kỹ sư Đỗ Nam Hải khoảng chừng 60 m. Cùng dự còn có ông Tham tán chính trị - Tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn và một phiên dịch. Được biết rằng trước đó, ngày 4/5/2009 hai viên chức ngoại giao Hoa Kỳ nói trên cũng đã có cuộc gặp gỡ với bác sỹ Nguyễn Đan Quế, một nhà đấu tranh dân chủ kiên cường và bền bỉ tại nhà riêng của ông ở đường Nguyễn Trãi, quận 5, Sài Gòn. Có thể nói rằng, đây là lần đầu tiên một vị Đại sứ của nước ngoài đã trực tiếp gặp những nhà đấu tranh dân chủ ở ngay tại Việt Nam.

Đáp lại sự quan tâm của đoàn, kỹ sư Đỗ Nam Hải đã trình bày sơ lược về sự phát triển của phong trào dân chủ Việt Nam nói chung và của Khối 8406 nói riêng. Đồng thời nêu lên những sự vi phạm nhân quyền của Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Đặc biệt là đối với những người dám dũng cảm đứng lên đấu tranh để đòi một nền tự do, dân chủ thực sự; đòi một thể chế chính trị dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị cho dân tộc Việt Nam. Đó là những giá trị phổ quát, quý báu của nhân loại, mà cho đến nay dân tộc Việt Nam vẫn chưa hề được hưởng.

Kỹ sư Đỗ Nam Hải nói tiếp: trong khoảng hơn 3 năm trở lại đây, phong trào dân chủ Việt Nam đã có những bước phát triển mới rất tích cực cả về lượng lẫn về chất. Bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 (Tuyên ngôn 8406) ra đời vào ngày 8/4/2006 đã căn bản nói lên được ý chí và nguyện vọng tha thiết của đại đa số dân tộc Việt Nam hôm nay là: cần phải dân chủ hóa thực sự đất nước. Tuyên ngôn 8406 cũng đã vạch ra được một đường lối đúng đắn, rõ ràng và triệt để cho tiến trình dân chủ ấy. Bất chấp mọi sự đàn áp khốc liệt của Nhà cầm quyền, phong trào dân chủ Việt Nam và Khối 8406 vẫn tồn tại và đang vững vàng tiến lên phía trước.

Kỹ sư Đỗ Nam Hải nhấn mạnh: dân tộc Việt Nam chúng tôi hôm nay rất cần xây dựng và phát triển về tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; rất cần chất xám, công nghệ, tiền vốn, v.v... từ nước ngoài, kể cả từ Hoa Kỳ. Nhưng trước hết và trên hết là dân tộc chúng tôi cần phải cải tổ chính trị, mà cụ thể là phải đấu tranh để thay thế được một cách triệt để thể chế chính trị hiện nay, từ độc đảng toàn trị sang đa đảng tiến bộ. Nếu không, mọi sự phát triển ở trong các lĩnh vực khác do nhân dân chúng tôi tạo ra được, sớm muộn gì cũng sẽ bị chính cái thể chế chính trị độc đảng toàn trị tai hại hiện nay triệt tiêu hết mà thôi. Sự phát triển nếu có là không thể bền vững và rất mong manh, dễ vỡ. Thực tiễn Việt Nam đã và đang chứng minh rất rõ điều này.

Chúng tôi cũng luôn xác định rằng: lực lượng để thực hiện cuộc cách mạng dân chủ triệt để ấy chính là tuyệt đại bộ phận dân tộc Việt Nam hôm nay, bao gồm hơn 3 triệu đồng bào Việt Nam ở ngoài nước và hơn 85 triệu đồng bào trong nước, kể cả nhiều người đã và vẫn còn đang làm việc trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam. Đồng thời, xin chân thành cảm ơn mọi sự ủng hộ và giúp đỡ đầy nhiệt tình, cụ thể và ngày càng có hiệu quả của thế giới dân chủ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa này của chúng tôi, trong đó có chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ.

Cách đây 20 năm, các nước Đông Âu đã thực hiện được thắng lợi cuộc cách mạng dân chủ của đất nước họ. Biến các nước này từ chế độ độc tài cộng sản sang chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị bằng con đường hòa bình, bất bạo động. Đó chính là những tấm gương, những kinh nghiệm quý giá; đồng thời cũng là những động lực mạnh mẽ để phong trào dân chủ Việt Nam chúng tôi noi theo. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng: Đông Âu hôm nay chính là ngày mai của Việt Nam và bằng mọi khả năng có thể, chúng tôi sẽ truyền niềm tin tất thắng ấy cho dân tộc mình.

Đại sứ Hoa Kỳ M.Michalak nói đại ý: “Chúng tôi xin bày tỏ sự cảm thông và lòng ngưỡng mộ đối với mọi nỗ lực và những khó khăn mà ông và những người như ông đã và đang phải vượt qua. Đồng thời, xin rất cám ơn về những điều ông vừa trình bày với chúng tôi. Trách nhiệm của chúng tôi là tập hợp mọi ý kiến đó lại và khi có điều kiện sẽ nêu vấn đề với chính phủ Việt Nam. Bởi vì, Hoa Kỳ và Việt Nam hiện nay là hai quốc gia có mối quan hệ toàn diện về tất cả các mặt. Chúng tôi cũng hy vọng rằng ông sẽ không phải gặp thêm những khó khăn mới sau cuộc gặp gỡ hôm nay với chúng tôi.”

Kỹ sư Đỗ Nam Hải đáp: Tôi xin chân thành cám ơn ông về cuộc gặp gỡ hôm nay và cũng xin rất cám ơn ông về những lời chia sẻ trên. Sáng nay, khi tôi mở cửa bước ra đường thì lần đầu tiên trong suốt bao năm qua, tôi không hề thấy bóng dáng của bất cứ một viên công an mặc thường phục nào đứng chốt xung quanh nhà tôi như mọi ngày nữa. Hàng ngày, tôi vẫn thường di chuyển bằng xe gắn máy và mỗi khi xe phải dừng lại thì thậm chí, giữa tôi với họ chỉ cách nhau có một sải tay mà thôi. Tuy nhiên, tôi xin khẳng định với các ông rằng: chỉ ngay chiều nay thôi, khi cuộc gặp gỡ này kết thúc thì mọi chuyện trên sẽ lại trở về như cũ. Đây chính là “lối đánh du kích” mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn thường áp dụng. Chẳng những là “đối nội” với chúng tôi, mà họ còn áp dụng một cách rất thành thạo và có hệ thống trong công tác đối ngoại nữa.

Thế nhưng, hai viên chức Hoa Kỳ, cô phiên dịch và kỹ sư Đỗ Nam Hải, cả nhóm bốn người ấy cũng không phải chờ đợi lâu đến vậy. Và chuyện bất ngờ đã xảy ra: Khi mọi người đang mải nói chuyện thì một người đàn ông trung niên khoảng trên dưới 40 tuổi ở bàn bên cạnh chợt đứng lên. Ông ta nói to bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh một cách rất lộn xộn, đại loại như sau: “Tôi xin lỗi vì đã cắt ngang câu chuyện của mọi người, nhưng từ nãy đến giờ tôi nghe ông này (chỉ vào kỹ sư Đỗ Nam Hải) nói là ở Việt Nam hiện nay không có tự do dân chủ, là chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền, v.v... Vì vậy, là một công dân bình thường, tôi cảm thấy rất bức xúc. Tôi không thể hiểu một người Việt Nam được đất nước mình nuôi dưỡng trưởng thành mà lại không có lòng tự hào dân tộc, mà lại đi nói xấu đất nước mình, dân tộc mình với những người nước ngoài như vậy, ...”.

Là người đã có nhiều kinh nghiệm làm việc với bộ máy công an trị Việt Nam nên kỹ sư Đỗ Nam Hải chỉ cần nghe qua những lời trên là đã thấy “quen quen” rồi! Ngay lập tức, anh nhận định: Đây chính là một màn kịch vụng về và dồ dại của công an Việt Nam và người đàn ông đang huyên thuyên này chỉ là một “diễn viên” đang “vào vai” mà thôi. Tuy nhiên, ý thức được trách nhiệm của mình lúc này là không thể để cho vấn đề diễn biến xấu hơn, nên kỹ sư Đỗ Nam Hải đã ôn tồn nói với ông ta: “Tôi xin giới thiệu với ông, đây là những viên chức ngoại giao Hoa Kỳ và ông này là đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hiện nay. Những điều ông vừa nói, tôi cũng đã hàng trăm lần phải đấu tranh với công an Việt Nam tại nhiều đồn công an ở Việt Nam rồi. Vì vậy, nếu ông muốn thì tôi cũng sẵn sàng đối thoại với ông nhưng phải là lúc khác chứ không phải là lúc này, khi mà tôi đang tiếp khách của mình. Theo tôi, bây giờ tốt hơn hết là ông nên quay trở về bàn của ông và hãy để cho chúng tôi được yên”.

Nhưng sau đó ông ta vẫn tiếp tục “bức xúc”! Người phụ nữ đi cùng với ông ta, khoảng trên dưới 30 tuổi cũng có cùng “lòng tự hào dân tộc” như ông ta và phụ họa theo bằng những lời tương tự. Đại sứ Hoa Kỳ M.Michalak sau khi được nghe dịch lại đã nói với mọi người, kể cả với người đàn ông và người phụ nữ kia một cách rất ngoại giao, đại ý như sau: “Không sao, tôi cho rằng đây cũng là một cơ hội tốt để tôi có thể nghe được thêm những ý kiến khác biệt nữa.”. Kỹ sư Đỗ Nam Hải nói: “Tôi đồng ý với ông Đại sứ rằng trong cuộc sống thì cần phải chấp nhận sự đa nguyên ý kiến. Nhưng phải là trong những điều kiện hoàn cảnh thích hợp mà người ta sẽ có sự trao đổi, đối thoại với nhau, chứ không phải như cái cách mà ông này đang làm: Khi chúng ta đang nói chuyện riêng với nhau và không hề làm ảnh hưởng gì đến ông ta thì ông ta lại nhảy xổ vào như thế này. Tôi cho rằng đó là một hành động rất mất lịch sự.”.

Một người khách trong quán cafe được chứng kiến câu chuyện cũng đã thẳng thắn góp ý với người đàn ông kia là không nên nói thêm gì nữa và hãy trở về bàn của mình. Có lẽ lúc ấy ông ta nhận thấy mình không nhận được sự ủng hộ của mọi người xung quanh và điều quan trọng hơn cả là: “kịch bản” vạch ra cũng chỉ cho phép ông ta “diễn” đến đấy thôi. Nếu “vào vai” mà nhiệt tình quá lố thì chắc chắn ông ta sẽ bị cấp trên kỷ luật. Cuối cùng, ông ta đành phải quay về bàn mình ngồi. Toàn bộ sự việc trên chỉ diễn ra trong khoảng 5 phút thôi nhưng nó đã nói lên được rất nhiều điều.

Trên đoạn đường tiễn hai viên chức ngoại giao Hoa Kỳ từ trong ra ngoài cửa quán, nơi có chiếc xe hơi mang biển số ngoại giao đang đứng chờ, kỹ sư Đỗ Nam Hải nói: “Theo tôi, sự việc xảy ra vừa rồi mới đầu tưởng là rủi mà cuối cùng lại hóa thành may. Bởi vì người Việt Nam chúng tôi thường hay nói: trăm nghe không bằng mắt thấy và hôm nay các ông đã được thấy”. Ông Đại sứ Hoa Kỳ nói: “Chúng tôi đã hiểu thêm về những khó khăn của các ông và hy vọng là trong tương lai mọi việc sẽ tốt đẹp hơn.”.

Sài Gòn ngày 7/5/2009
Phóng viên dân chủ Khối 8406.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009

Chuyến xe quê















Câu chuyện xảy ra đã lâu, và là một chuyện kinh khủng. Theo một nghiên cứu sinh lý thần kinh đăng tải trên tạp chí Sciences khoảng mươi năm trước, thì những chuyện khủng khiếp theo thời gian có xu hướng bị gột bỏ khỏi trí nhớ và những điều vui vẻ ngọt ngào thì thường đọng lại lâu hơn. Âu đó cũng là một cách tự vệ của hệ thần kinh con người, nếu không những ký ức mang mãi đau buồn sẽ bị tổn thường và thải loại như một cách của chọn lọc tự nhiên. Câu chuyện của tôi là một ngoại lệ, trơ lỳ với thời gian, nó vẫn mồn một…


Lần đó tôi cùng hai chú học trò đang làm luận án tốt nghiệp nhằm một trạm y tế trên biên giới Việt-Lào mà xe đò thẳng tiến. Chúng tôi rời thủ phủ Sơn la vào khoảng 4h sáng. Tại bến xe trung tâm, ngoài ánh sáng đỏ đọc của một vài ngọn điện của phòng bán vé, đám chủ xe đốt thêm những chiếc lốp ôtô hỏng. Chúng cháy ngòn ngụt, đen ngòm quyện vào màn sương sớm năng hạt, đen mờ của vùng sơn cước tạo cảm giác âm u ghê người. Chiếc xe chở chúng tôi là một chiếc cũi sắt mang nhãn hiệu Ba Đình, nhằm hướng Mường Hum lao tới. Khung sắt được gắn trên một cái khung máy xe IFA “chuồn” thời Đông Đức xuất sang Việt nam. Nó sóc ghê gớm và nổ ầm ầm. Nhà xe bắt khách liên tục từ khi rời bến, tới lúc trời sáng rõ thì khoảng hơn sáu chục người đã được lèn lên xe. Đến ngoại vi Sơn la, nhà xe dừng lại, bên kia đường bên chiếc xe U-oat cảnh sát, có hai chú đang chờ. Phụ xe nhanh như cắt lấy giấy tờ xe, mở mớ tiền vé vừa thu xong, nhón hai tờ 50 nghìn kẹp vào trong và chạy sang đường. Trong nháy mắt, hắn quay lại, chiếc xe lại khởi hành. Tôi nhìn về phía cabin, hai bên kính dán chi chít những giấy chứng nhận, bằng khen chấp hành tốt luật giao thông… Nhiều tới mức tôi chợt bật cười khi nghĩ rằng bọn cảnh sát mỗi lần sau khi “làm luật” lại chìa ra cho tay phụ xe cái chứng chỉ và đem về dán trên kính cabin.


Lúc đầu cảm giác ngột ngạt trong xe chưa rõ ràng, nhờ cái lạnh vùng sơn cước nhưng tới 8h sáng thì bắt đầu sặc mùi người. Lúc đó chiếc xe đã tiến sâu 20-30km vào con đường rừng độc đạo. Xe phóng như điên giữa rừng xanh, núi đỏ bạt ngàn nên bớt đi sự oi ả và hôi hám. Bản thân đã quá quen với những kiểu hành trình như vậy nên tôi nháy hai chú sinh viên dựa vào thành xe tranh thủ chợp mắt. Thỉnh thoảng, qua những cái ổ voi, tôi mở mắt liếc ra ngoài. Những mảng màu xanh xen lẫn những đám lở loét của đất đá đang trụt lở do mất rừng trong một ánh sáng nhợt nhạt mùa đông thật là buồn tẻ.


Đột nhiên chiếc xe dừng lại. Chủ xe ra hiệu để mọi người xuống xe vượt đèo. Trước mắt bắt đầu hiện ra những thung lũng sâu hoắm và những rặng núi chạy ngút ngàn về xa. Đó là đất Lào. Quốc bộ được khoảng 300m thì đột nhiên bên rệ rừng hiện ra một đám khoảng 70-80 người với hành lý, gánh gồng xô ra nhập vào đoàn chúng tôi. Chưa kịp hiểu ra sao thì chiếc xe đã rồ gần đến đỉnh dốc. Đám hành khách cũ nhao lên xe chiếm giữ những bao tải, thùng, hòm của mình. Đột nhiên chiếc xe rồ ga như lấy đà, khi đến mé dốc phía bên kia nó dừng hẳn lại. Hai tên phụ xe nhẩy phắt xuống, chúng mở nốt chiếc cửa xe thứ hai và ra hiệu cho đám người kia chạy lại. Chúng nhồi người. Một không khí kinh khủng bắt đầu. Tiếng khóc thét của trẻ con, tiếng chửi bới tanh tưởi của những người đàn bà buôn chuyến bị giẫm đạp hay bị sờ sịt, nắn bóp. Bao tải, ba lô quăng huỳnh huỵch qua cửa sổ và cửa ra vào. Trên nóc xe ầm ầm tiếng hàng hoá và tiếng giẫm đạp của đám khách đàn ông như muốn “đạp chết” đám hành khách bên dưới… Nhưng ghê rợn hơn là sau một hồi nhồi nhét tàn bạo, những người trong xe hầu như quấn chặt vào nhau, đau đớn, rên xiết. Một số đông không còn sức nữa thì im lặng ậm ự cố chống lại sức đè của những kẻ bên cạnh. Trẻ con thì gào thảm thiết. Một số hành khách đặc biệt là nữ thì bắt đầu cảm thấy hoảng loạn vì có vẻ ngoài sức chịu đựng và tưởng tượng. Họ ngửa cổ lên hướng trần xe và gào thét, chửi bới tục tĩu, điên loạn. Qua lời chửi, thì tôi biết đây không phải là lần đầu tiên họ gặp trò đểu này. Chủ nhà xe này có hai chiếc xe, thằng em nó lái một chiếc. Khi tới giữa rừng, gần đỉnh đèo nó bảo là hỏng xe và đuổi mọi người xuống và chạy mất. Thằng anh nó sẽ đến sau khoảng nửa giờ và nhét toàn bộ đám khách lên chiếc cũi này. Ba thần trò tôi bị ép bẹp gí vào lỗ cửa sổ, không thể cựa được nữa. Mồ hôi chảy theo ống quần thành dòng xuống dưới chân. Tôi gào lên, cho chúng tôi xuống. Chẳng ai hưởng ứng và cũng chẳng ai giạt ra cả, vì đâu còn chỗ và họ cũng hết sức mất rồi. Hai thằng phụ nhét những người cuối cùng xong rút trong túi quần hai ổ khóa và khoá ngay cửa xe lại, chẳng để ý gì đến tiếng gào của tôi. Chiếc xe lồng lên. Thân nó vặn vẹo có lẽ vì số người và hành lí trên nóc đè xuống. Trong xe, sau mấy phút chạy hệ cơ của đám người trong xe hết trương lực, tất cả đè chặt vào nhau như mớ lươn. Khi chiếc xe bắt đầu vào vùng đèo dốc thì trời đổ mưa. Vì đầu bị đè gí vào thành cửa sổ nên tôi được mục kích chuyện gì bắt đầu xẩy ra. Con đường chúng tôi đang đi rất kinh khủng, nhựa đường hình như chỉ còn lác đác đâu đó ở sống đường. Những phần còn lại được vá víu bởi đá cấp phối. Rất nhiều chỗ đường đã lở tới mức nó còn nhỏ hơn khoảng cách giữa hai bánh xe, không hiểu sao mà chiếc xe không lật. Ở Đông Nam Á ít nơi có con đường như thế. Nhìn qua những chỗ lở đó, tôi có cảm giác mình đang chạy trên một bờ tường thẳng đứng. Một vài con trâu dưới đáy bờ vực chỉ nhỏ hơn chiếc đồng hồ trên cổ tay tôi đang ghì chặt vào thành cửa sổ. Trời mưa to hơn, nhiều hòn đá cỡ bàn tay hay bàn chân bên mép vực lở ào xuống dưới mỗi khi bánh chiếc xe chẹt qua. Chúng rơi biến, mất tích ngay. Bên mé ngoài thì mưa lạnh nhưng phía trong vẫn nóng hầm hập. Thằng chủ xe khốn kiếp vẫn cho phóng 50-70km/h. Chiếc xe nghiêng ngả, đám người bên trong rên rỉ. Nhiều người nôn lẫn lên người nhau vì không rạch ra được cửa sổ. Mắt liếc xuống vực, đột nhiên, một cảm giác căm giận ghê gớm, pha chút ghê sợ và kinh tởm dâng lên trong tôi. Tôi chợt nghĩ nếu lát nữa thôi, xe đổ hai thằng học trò ngoài đôi mươi của tôi có làm sao thì tôi có sống cũng đau khổ hết đời…Còn hơn một trăm hành khách kia nữa, mạng sống của họ phỏng có nghĩa gì đây trong tay bọn người này ? Còn cái thân tôi, lang thang tứ phương không chết giờ leo lên cái quan tài sắt này chẳng lẽ lại giỗ đầu ngày này năm sau ư !. Như có một cơn điên bốc lên man dại, tôi vòng tay qua hông rút con dao găm Mỹ luôn giắt trong người mỗi khi đi công tác xa chọc lên đỉnh đầu và gào lên “Đ. con mẹ thằng chủ xe khốn nạn kia, nếu cái xe này đổ xuống mà tao không chết thì thề rằng bất kể chúng mày còn sống hay là đã chết : Tao sẽ dùng con dao này cắt đứt đầu chúng mày ra khỏi thân để trả thù cho những người ở đây hôm nay”. Có lẽ lúc đó mắt tôi điên loạn ghê gớm nên hành khách xung quanh im bặt, thằng chủ xe và mấy thằng phụ cách tôi khoảng hai “mét người” cũng im không thấy phản ứng gì. Trong mắt những hành khách quanh tôi, tôi thấy có quá nhiều mệt mỏi và cam chịu, có chút gì đó thông cảm đồng tình và ngạc nhiên nữa. Nhưng họ im lặng. Hình như thằng lái có giảm tốc độ, không biết vì tôi gào thét hay vì mưa... Một lúc sau, hành khách gục lẫn vào nhau vì mệt. Cái xe chạy như một nhà mồ im lìm. Nhiều năm đã qua, nhiều khi nghĩ lại tôi không hiểu là vì sao mình có thể chửi bới man rợ, kinh khiếp và điên loạn như vậy trước mặt những học trò của mình. Chúng là những đứa quý mến nên đã xin theo tôi. Sau này khi có dịp gặp lại nhau, các cậu học trò xưa đã sắp xong Ph.D, một cậu bảo lúc ấy em cũng muốn giết nó.


Những tờ báo lá cải ở Việt nam đã tiết kiệm được một chỗ trong ngày hôm sau vì chuyến xe đó đã không lật. Thằng phụ xe mở khóa, đám người đổ ập ra ngoài. Phụ nữ, trẻ con rũ rượi như sắp chết. Ai còn tí mật nào thì nôn hết ra. Đám chó bản ngửi xong cũng ư ử chạy mất. Nắng lúc 1h trưa ở vùng giáp Lào này oi ả khiếp người.


Chiếc xe đỗ ngay ở một cửa quán cơm. Tất cả hành khách những người phải đi tiếp xa hơn đều phải vào đó ăn một cái gì hay uống cốc nước. Các quán khác đều cách đó rất xa ! Chúng tôi chọn một góc sâu trong sân quán ăn, ngẫu nhiên từ vị trí của chúng tôi trông thấy ba thằng nhà xe bước vào. Chủ quán giả lả mời chúng vào gian sảnh giữa, ngay lập tức một mâm đầy bia và thức ăn được bê ra. Tôi thỉnh thoảng quan sát chúng và thực sự muốn đoán biết diễn biến tâm lý của những “tạo vật” này. Kỳ lạ là sự khắc nghiệt của chuyến “hành xác” vừa qua có vẻ không lưu lại chút gì trên nét mặt của bọn người này. Chúng ăn uống hùng hục và bàn tán say xưa về một nhà thổ nào đó trong vùng. Trên khuôn mặt chúng, với những múi thịt đỏ phừng phừng, tất cả là một sự thỏa mãn tuyệt đối ! Tôi có tìm kiếm những nét nhọc nhằn mưu sinh nào đó để cắt nghĩa về cái giá của cuộc đời của những người chủ xe này, tiếc thay ít nhất với ba người bọn họ. Không thấy !

Tôi tự hỏi, chúng mãn nguyện vì sao ?

Vì thu được bộn tiền nhàu nhĩ, quyện chặt nước mắt và sinh mạng của đám đông lam lũ kia, để sau khi no say sẽ đến phần dưới rốn ?

Hay vì chúng khoái trá với cảm giác quyền lực khi bắt thiên hạ rúc cả vào một cái lồng sắt mà vẫn phải lụy chúng mà không dám ho he ?

Đơn giản hơn, hay chúng chỉ nghĩ rằng nếu có chuyện gì chúng sẽ nhẩy thoát ra ngoài vì ngồi trên cabin?

Chẳng lẽ vì những mâm bia tú ụ không mất tiền mà chúng sẵn sàng đưa cả trăm người vào chỗ chết như chơi, chắc gì chúng đã thoát ?

Vì tất cả những cái đó hay còn những gì nữa tôi không biết !


Đời cứ trôi qua, cứ mỗi lần vào chợ Bến Thành, vào viện Bạch Mai, hay Chợ Rẫy… khi mà vé gửi xe máy ghi 2 nghìn nhưng bọn trông xe đòi khách 4 ngàn tôi lại nhớ đến chuyến sang Lào. Có lần về qua bộ Đại học để lấy tấm bằng mà mình đã tốt nghiệp bao năm trước thì được trả lời gọn lỏn là chưa có chữ ký, Bộ trưởng đang họp !. Hài hước thay khi một thằng bạn đi cùng đã khéo léo “làm luật” thì nó lấy được tấm bằng có chữ ký của Trần Hồng Quân khi ông này đã vào hẳn ôtô. Tay công chức “mẫn cán” vừa đi còn vừa thổi tấm bằng để cho khô chữ ký. Lúc đó tôi cũng nhớ đến chuyến sang Lào… Tôi chợt hiểu rằng, chuyến xe đó tôi đã không thể quên được vì nó là hình ảnh chính xác thu nhỏ của đất nước của tôi. Chính xác đến từng ngóc ngách của xã hội Việt nam. Nơi mà cứ 10 người thì có đến 7 người là nông dân hay lao động phổ thông. Họ có một thứ quyền và nghĩa vụ “cao cả” duy nhất đó là đem máu đóng cho chiến tranh và khi hòa bình thì lại đóng những đồng tiền nhàu nhĩ đổi bằng cả sinh mạng và sức khỏe của mình để nuôi ba thằng còn lại. Trong đó có cả tôi !.


Có lẽ chừng nào 7 người kia chưa biết đòi lại tiền vé xe khi bị lừa đảo. Kiên quyết không trả thêm 2 nghìn tiền gửi xe thu ngoài giá ghi…thì chừng đó giá trị nhân phẩm còn là thứ xa xỉ trên mảnh đất này, đừng nói gì đến dân chủ và nhân quyền.


Và cũng chừng nào 3 “thằng” còn lại vẫn trực tiếp hay gián tiếp điềm nhiên để mọi thứ như thế tiếp diễn mà sinh tồn hay tư lợi, thì ba thằng này cũng là khốn nạn cả, cho dù cách biểu hiện có khác nhau. Ta mà đối xử với nhau như thế sao hy vọng kiếm chút kính trọng gì trong con mắt ngoại bang đây ? Dân tộc như thế sẽ là dân tộc của sự nô lệ.


Nỗi ám ảnh đè nặng khiến tôi muốn tự giải thoát bằng cách “làm khổ” cái bàn phím vô hồn. Lúc đang gõ trang đầu này cũng đúng vào ngày hàng ngàn bà con công giáo đi bộ từ Thái Hà vào Hà Đông. Tôi hồi hộp nghĩ rằng cuối cùng thì với đức tin vào lẽ phải và sự tử tế, họ đã đảm nhiệm sứ mạng đại diện cho 7 người kia ! Tôi tiếp tục từng chữ, từng chữ một, mỗi ngày mấy dòng. Khi đến những dòng cuối cùng, hôm qua có tin là 135 chữ ký phản đối Dự án Boxít đã được gửi đi. Họ là những đại diện tiêu biểu của nhóm 3 “thằng” còn lại, cho cả tôi nữa. Có cái gì đó nhỏ thôi nhưng oà lên trong tôi. Tôi thấy le lói chút đường ra dân tộc mình. Dứt khoát rồi, đó là con đường đúng đắn mà rồi cả dân tộc tôi sẽ đi tới, một dân tộc đau khổ thấm đẫm trong cả những huyền thoại.

Tùy bút của Quiteyoungguy

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2009

Blogger, hãy tự bảo vệ mình (GTC)












Phần 1: Sự đe dọa với blogger ở Việt nam ngày càng lớn:


Hiện nay, rất nhiều người đang lo ngại khi truy cập hoặc gửi bài viết lên những trang web, blog, diễn đàn đấu tranh đòi công lý và sự thật sẽ bị Công an Việt nam truy tìm và bắt bớ.

*************************************

Công an mạng đang kiểm tra máy tính

*******************************************

Lo ngại cũng phải vì vào tháng Ba 2009, Tổ chức Phóng viên không Biên giới (RSF: Reporters sans frontières) đã đưa ra danh sách 12 quốc gia thù nghịch với internet, trong có Việt Nam, và mới đây một danh sách của Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo CPJ (Committee for Protection of Journalists) được đưa ra nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 03-05-2009 nhằm đấu tranh chống nạn trấn áp trên mạng internet cũng xếp Việt nam đứng thứ 6 trên 10 nước khắc nghiệt nhất thế giới, các quốc gia này gồm Miến Điện, Iran, Syria, Cuba, Ả rập Saudi, Việt Nam, Tunisia, Trung Quốc, Turkmenistan và Ai Cập.

Theo CPJ, trong năm 2008, con số các nhà báo mạng và blogger bị bỏ tù lần đầu tiên đã vượt qua con số các nhà báo cho ấn bản in. Giám đốc điều hành tổ chức này, ông Joel Simon, nhận xét: "Các blogger đứng trên tuyến đầu trong cuộc cách mạng thông tin và con số của họ ngày càng tăng".

"Thế nhưng các chính phủ cũng nhanh chóng học cách sử dụng công nghệ để chống lại các blogger thông qua việc kiểm duyệt và sàng lọc trên mạng, hạn chế tiếp cận internet và tìm kiếm các dữ liệu cá nhân."


Mặt khác, nội tình của Việt nam ngày càng trở nên sôi sục do những yếu tố Chính trị và Kinh tế đang trong giai đoạn chín mùi, để cố gắng tồn tại nhà cầm quyền Việt nam đã ra thông tư số 07 nhằm răn đe các blogger, và tăng cường công tác truy tìm bằng cách dụ blogger chuyển sang 1 webblog đặt server ở Việt nam như :

-Yume.vn :VDC, HCM, Vietnam, IP address: 222.255.236.238
-Vnweblogs: IP RANGE FOR XDSL IPTV FIXED PHONE SERVICE AT HCMC, IP address: 118.69.201.107

hoặc ở Trung Quốc như:

-Yahoo plus :Hongkong, China, IP address: 124.108.120.242 (chắc muốn nhờ tay TQ moi dữ liệu)

-v..v....

**********************************


**********************************************


Chưa hết, các phương tiện lề phải luôn rêu rao rằng đến tháng 4, Yahoo 360 sẽ đóng cửa (server Yahoo 360 hiện ở California,USA_IP address: 216.252.106.238), giờ đây thời điểm tháng 4/2009 đã trôi qua, cho ta thấy mọi chiêu bài dối trá đều đã được sử dụng, nhưng các blogger Việt nam vẫn kiên trì bám trụ Yahoo 360.


************************************

Sáng đúng, chiều sai, ....sáng mai lại đúng

*************************************

Nhưng tại sao nhà cầm quyền Việt nam muốn đặt server ở Việt nam: đó là vì khi có người truy cập blog, diễn đàn hay website, những thông tin cá nhân như IP Address, hệ điều hành (OS system), tên máy tính,... sẽ được lưu trong bản log, nếu có được những thông tin này và đối chiếu với bản log của Công ty điện thoại cung cấp đường truyền ADSL, thì việc xác định địa chỉ nhà(home address) của người truy cập chẳng khó khăn gì.



Nhà cầm quyền Việt nam đặt bộ lọc ra sao:

Chúng ta cần phân biệt những kỹ thuật Firewall :

- Packet Filtering: là kỹ thuật cho phép Firewall nhận biết các packet dựa vào Source IP và Dest IP của packet để từ chối hay chấp nhận packet, hơn nữa là nhận biết cả port (tức là có thể làm việc đến layer 4). Access control list trên các router của Cisco là một ví dụ cho kỹ thuật này.


- Proxy-based: là kỹ thuật dựa trên một dịch vụ làm trung gian (proxy). Khi nhận được request từ clients, proxy sẽ thay thế client kết nối với server bên ngoài, như vậy một proxy sẽ tạo ra 2 connections, một để kết nối với client và một kết nối với external server. Proxy chỉ hỗ trợ đuợc một số protocol phổ biến. Kỹ thuật này đã được nhà cầm quyền Việt nam dùng trong nhiều năm.


- Statefull Inspection: là kỹ thuật được đa số các firewall tiên tiến áp dụng. Kỹ thuật Statefull Inspection sẽ tạo ra bảng State Table cho tất cả các connections đi qua Firewall, dựa vào bảng state table giúp cho firewall sễ dàng monitor các connections và có khả năng monitor các command của protocol layer 7 như : FTP, SMTP,... (điều mà các kỹ thuật firewall khác không thực hiện được). Đây là kỹ thuật mới đã được nhà cầm quyền Việt nam áp dụng, qua state table, họ có thể Set custom tùy thích:

_Chặn 1 phần như trang danchuausa.net (Arizona, USA, IP: 72.167.183.27) = chỉ mở được trang index.htm, mất bố cục, không thể mở trang sau, mất bố cục trang web trở nên lộn xộn, mất thẩm mỹ

_Chặn từng lúc như trang X-cafevn.org(Texas, USA, IP: 74.55.40.98) nên ta thấy tình trạng có người nói x-cafevn bị Firewall, có người nói x-cafevn không bị firewall, mở rất tốt !

Áp dụng cái thứ 3 này, Nhà cầm quyền Việt nam sẽ dễ dàng cãi chày cãi cối với quốc tế rằng "Việt nam tự do thông tin"






Phần 2: Hãy tự bảo vệ mình

Cho dù Yahoo hứa sẽ không cung cấp dữ liệu người dùng sau vụ bê bối bắt 2 blogger Trung quốc, nhưng tự bảo vệ mình mà không phụ thuộc vào bất cứ điều gì luôn là cần thiết.

Hơn thế nữa, GTC đã nghĩ ra 1 cách để xác định được số điện thoại của blogger mà chẳng cần Yahoo hay Google cung cấp dữ liệu, nhưng xin được phép không trình bày ở đây, bởi vì chả lẽ GTC lại vẽ đường cho hươu chạy, nhưng GTC sẽ trình bày chi tiết cách chống lại việc truy tìm này:


1.Khi cài Windows mới, bắt buộc phải cài ngay 1 chương trình chống Virus của ngoại, có update tới bản mới nhất (new version of virus signature database).


2. Lập Nickname mới nếu nickname cũ có thể bị truy tìm , tránh tiết lộ về bản thân, có thể dẫn friend cũ đến bằng cách giới thiệu trên blast.

3.Khi truy cập blog hay những diễn đàn để viết, dù blog hay diễn đàn không bị firewall, bắt buộc bạn phải dùng 1 công cụ vượt firewall, như thế dù server có lưu lại IP address của bạn, thì cũng chỉ thấy 1 địa chỉ ở nước ngoài, ở đây tôi sẽ không nói về công cụ vượt firewall, vì nó đã có rất nhiều trên internet, vả lại nếu mỗi người sử dụng 1 công cụ khác nhau thì việc cấm cản sẽ là càng khó hơn.


Nhớ check lại xem công cụ vượt firewall tốt chưa bằng cách gõ google.com, nếu bạn còn thấy chữ Việt hoặc Go to Google Vietnam, điều đó có nghĩa là đã thất bại, bạn cũng có thể kiểm tra bằng cách vào ip2location để biết bạn đang ở đâu trên net (trong ô Your IP Address is: )

4.Luôn dùng máy tính của mình để viết blog: nhiều người vẫn nghĩ rằng ra ngoài dịch vụ post bài là chắc ăn ! lầm to, ra đó bạn sẽ dùng IP address của dịch vụ nhưng máy tính ngoài dịch vụ chứa đầy virus, keylogger, nó sẽ ghi lại hết những gì bạn gõ và qua internet sẽ chuyển đến chủ của virus, keylogger .Nhưng nếu bạn mang laptop của bạn ra dịch vụ có Wireless thì lại là tốt nhất.

5. Hãy làm những điều trên ngay bây giờ: vì cách để xác định được số điện thoại của blogger mà GTC đã nghĩ ra thì rồi Công an mạng cũng sẽ nghĩ ra.


Cuối cùng xin chúc các blogger mãi hăng say khỏe mạnh để viết tiếp.



Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2009

Bào mòn uy tín truyền thông có giữ được “ổn định chính trị”? _Phần 2 và 3

Bài của Trân Văn

Bào mòn uy tín truyền thông có giữ được “ổn định chính trị”?_Phần 2

Trong bài trước, Trân Văn đã mô tả phương thức quản lý, điều hành hệ thống truyền thông ở Việt Nam. Để duy trì sự “ổn định chính trị” trong quá trình phát triển kinh tế, chính quyền đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nắm chặt hệ thống truyền thông.

Trong đó có cả việc xử lý, kỷ luật khá nhiều nhà báo và cơ quan báo chí như một cách nhắc nhở về yêu cầu phải tuân phục. Thế nhưng sự tuân phục tuyệt đối của hệ thống truyền thông có tạo ra sự “ổn định chính trị” mà chính quyền mong muốn?

Vài năm gần đây, có khá nhiều trường hợp cho thấy, yêu cầu hệ thống truyền thông phải tuân phục tuyệt đối đã trở thành nguyên nhân đẩy chính quyền vào thế bị động, đồng thời tạo ra hàng loạt bất ổn về mặt chính trị. Trong đó, rõ nhất là vụ đòi lại Tòa Khâm sứ và mảnh đất thuộc Giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội.

Kể từ năm 2007, những buổi đọc kinh, cầu nguyện kéo dài trước Tòa Khâm sứ và Giáo xứ Thái Hà của phía Công giáo, đã khiến chính quyền thực sự lo ngại. Do chính quyền không thể dùng vũ lực, cũng không thể thương thảo, hệ thống truyền thông bắt đầu công kích việc đòi lại tài sản, kể cả bôi nhọ Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, người đứng đầu Tổng giáo phận Hà Nội.

Vấp phải sự kháng cự mãnh liệt

Tuy nhiên, lần này, cách thức mà hệ thống truyền thông Việt Nam thường áp dụng, khi mở những “chiến dịch tuyên truyền”: Giới thiệu ý kiến của dân chúng, nhằm tạo ra cảm giác về sự đồng thuận của toàn xã hội, gây áp lực về mặt dư luận, khiến tất cả phải chuyển động theo hướng chính quyền muốn, đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của giới Công giáo Việt Nam. Các cuộc tấn công và phản công giữa hai bên, nhằm xác định sự thật, có tính chất như một cuộc chiến trên “mặt trận thông tin”…

Ngày 19 tháng 8 năm 2008, tờ Hà Nội Mới đăng bài “Chánh xứ và linh mục Thái Hà phải chịu trách nhiệm”, trong đó, dẫn ý kiến của ông Nguyễn Đức Thắng, được cho là “giáo dân giáo xứ Thạch Bích, ở huyện Thanh Oai”, với yêu cầu: “Xử lý nghiêm những hành vi sai trái ở Thái Hà”.

Ít ngày sau, các diễn đàn trên Internet công bố lời của linh mục Nguyễn Khắc Quế, Chánh xứ Thạch Bích, khẳng định: “Giáo xứ Thạch Bích chỉ có một giáo dân mang tên Nguyễn Đức Thắng nhưng ông đã chết cách nay vài năm”.

Ngày 29 tháng 8 năm 2008, Đài Tiếng nói Việt Nam phát bài: “Hành động của Giáo xứ Thái Hà gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của người Công giáo” và kể rằng, linh mục Nguyễn Văn Khánh ở Giáo xứ Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, nhận định: “Mọi tổ chức, cá nhân đều phải đóng góp một phần công sức vì sự nghiệp chung”. Cũng theo Đài này, linh mục Khánh, tâm sự: “Chúng tôi đã xây dựng nhà thờ mới, tuy từng có những lấn cấn nhưng đều được địa phương giải quyết thỏa đáng, hợp lòng giáo dân”.

Vài ngày sau, Thông tấn xã Công giáo Việt Nam, đưa lên Internet lời của chính linh mục Nguyễn Văn Khánh. Ông phủ định: “Về vụ Thái Hà, tôi không có ý kiến nào phản đối… Ngay cả ở đây, nhà nước thu hồi đất mà có đền bù gì đâu. Giáo xứ Gia Nghĩa phải mua đất mới và đâu có bằng lòng về chuyện giải quyết đất của nhà thờ”.

Đối đầu với hệ thống truyền thông của chính quyền

Sau hàng loạt những sự kiện kiểu như vừa kể, ngày 12 tháng 9 năm 2008, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội gửi thông báo, công khai nhắc nhở mọi người “cảnh giác khi tiếp xúc với giới truyền thông” và “khôn ngoan khi đón nhận thông tin”, vì các tờ báo, đài phát thanh và đài truyền hình đã dàn dựng thông tin để lừa dối dư luận, chẳng hạn một cán bộ công an, giả danh giáo dân Giáo xứ Cần Kiệm, Giáo phận Hưng Hóa để phát biểu trên Đài Truyền hình Hà Nội, hoặc phóng viên Đài Truyền hình Hà Nội cắt xén, ghép ý kiến của một giáo dân Giáo xứ Nam Dư, Tổng giáo phận Hà Nội cũng để bóp méo sự thật.

Khi thông tin đột nhiên trở nên đa chiều và toàn diện, những cơ quan báo chí tham gia “chiến dịch tuyên truyền” chống Thái Hà phải liên tục điều chỉnh, để thông tin gần với sự thật hơn.
Song một nửa sự thật không phải là sự thật. Nhà văn Nguyễn Viện nêu cảm nhận:

“Với hệ thống Internet toàn cầu như hiện nay, chính quyền không thể tuyên truyền theo cách như ngày xưa, “một mình, một chợ” được nữa. Khi người ta có những thông tin khác để đối chiếu thì những lập luận, những thông tin của chính quyền theo kiểu như vậy chỉ tạo cho người ta sự thất vọng, hết sức thất vọng, bởi vì không sức mạnh nào bằng sức mạnh của sự thật.”

Ngày 15 tháng 9 năm 2008, tờ Công an nhân dân đăng bài “Giáo dân nói về những vi phạm ở Giáo xứ Thái Hà”. Trong bài, tờ báo dẫn ý kiến của ông Vũ Kim Mỹ, Giáo xứ Phát Vinh, tỉnh Ninh Bình, chỉ trích gay gắt việc đòi lại đất ở Thái Hà và nhấn mạnh: “Chúa không xui chúng ta làm việc đó mà chỉ có những kẻ mượn danh Chúa làm điều xấu”.

Ngay ngày hôm sau, những nhóm truyền thông tự phát lập tức tiếp cận và cho công bố một biên bản, ghi chép cuộc trao đổi của họ với chính ông Vũ Kim Mỹ, kèm chữ ký của ông. Ông Mỹ tiết lộ, ông hiện là thẩm phán của Tòa án huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Khoảng đầu tháng 9, Công an Ninh Bình giới thiệu phóng viên gặp ông. Ông Mỹ được căn dặn đừng tiết lộ việc là thẩm phán vì họ chỉ muốn ông xuất hiện với tư cách giáo dân. Ông Mỹ khẳng định, khi trả lời phỏng vấn, ông không hề nói gì đến Thái Hà, không đòi xử lý nghiêm minh và không đề cập tới Chúa như báo Công an nhân dân viết!

Cuộc đối đầu giữa hệ thống truyền thông thuộc chính quyền với các nhóm truyền thông tự phát để bảo vệ sự thật, lên đến đỉnh điểm khi tám giáo dân tham gia đọc kinh, cầu nguyện đòi lại đất ở Thái Hà bị đưa ra xét xử.

Sau phiên xử sơ thẩm vào ngày 8 tháng 12 năm 2008, rất nhiều cơ quan báo chí ở Việt Nam cùng đưa tin rằng, các giáo dân là bị cáo trong vụ án này đã “cúi đầu nhận tội, xin khoan hồng”.

Song đúng hai tuần sau, hai trong tám bị cáo của vụ án nộp đơn khiếu nại, yêu cầu Đài Truyền hình Việt Nam và tờ Hà Nội Mới đính chính, vì họ có đủ bằng chứng để chứng minh họ chưa bao giờ “cúi đầu nhận tội, xin khoan hồng”.

Do hai cơ quan báo chí vừa kể không đính chính, cả hai bị cáo đã nộp đơn khởi kiện Đài Truyền hình Việt Nam và tờ Hà Nội Mới tại Tòa án, theo đúng các qui định pháp luật tại Việt Nam. Bà Ngô Thị Dung, một trong hai nguyên đơn kể:

“Chúng tôi khởi kiện vì tờ báo nói sai sự thật là tám bị can đã cúi đầu nhận tội nhưng chúng tôi đâu có nhận tội. Chúng tôi có sai trái gì đâu mà chúng tôi nhận tội.”

Không còn dám lừa dối sự thật

Tuy vụ kiện hai cơ quan truyền thông chưa được hệ thống Tòa án thụ lý vì nhiều lý do khó tin, song nó vẫn làm hệ thống truyền thông rúng động.

Chuyển biến tích cực nhất mà người ta có thể thấy sau đó là khi tường thuật tiếp về phiên xử phúc thẩm, diễn ra hôm 27 tháng 3 năm 2009, không còn cơ quan truyền thông nào ở Việt Nam tường thuật các bị cáo “cúi đầu nhận tội, xin khoan hồng” nữa.

Tờ Hà Nội Mới cho biết: “Các bị cáo liên tiếp kêu oan”. Tờ An Ninh Thủ Đô của Công an Hà Nội kể: “Tất cả đều cho rằng mình không phạm tội”. Còn báo điện tử VnExpress viết: “Các bị cáo cho rằng hành vi của họ là không sai, không vi phạm pháp luật. Tòa án sơ thẩm xét xử họ về những tội danh trên là không đúng”...

Trước đây, không thể tìm ra những nội dung như thế khi các cơ quan báo chí ở Việt Nam tường thuật về các vụ án mang màu sắc chính trị.

Quí vị vừa nghe Trân Văn tường thuật về những sự kiện cho thấy, trong vụ Thái Hà, yêu cầu hệ thống truyền thông phải tuân phục tuyệt đối đã đẩy chính quyền vào thế bị động, đồng thời tạo ra bất ổn về mặt chính trị như thế nào.





Bào mòn uy tín truyền thông có giữ được “ổn định chính trị”?_Phần 3

Trong hai bài trước, Trân Văn đã mô tả quan niệm cũng như cách chính quyền quản lý, sử dụng các cơ quan báo chí đã trở thành nguyên nhân gây ra nhiều rắc rối, khiến chính quyền đau đầu.

Ở bài cuối của loạt bài này, Trân Văn sẽ tiếp tục trình bày những rắc rối khác đang gây ra đủ loại bất ổn vẫn do cung cách kiểm soát truyền thông để “ổn định chính trị”…

Tại Việt Nam, chính quan niệm và cách hành xử của chính quyền với hệ thống truyền thông đang bào mòn uy tín của các cơ quan báo chí.

Vào lúc này, có khá nhiều người cùng nghĩ như nhà văn Nguyễn Viện:


“Tôi nghĩ rằng niềm tin của công chúng vào báo chí trong nước rất giới hạn. Nó chỉ ở mức độ nhất định nào đó thôi vì xưa nay chúng ta đều biết báo chí buộc phải đi theo “lề phải” của nhà nước!”


Phong trào blog, trang thông tin điện tử cá nhân

Cũng vì vậy, công chúng, đặc biệt là trí thức, văn nghệ sĩ và thanh niên vừa tự đi tìm thông tin, vừa chủ động lựa chọn cách thức chia sẻ thông tin và suy tư của mình với mọi người. Đây là lý do khiến việc lập blog, cách gọi các trang thông tin điện tử cá nhân trên Internet, bùng phát thành phong trào.

Trong thời gian vừa qua, các blog đã tồn tại và phát triển như một hệ thống truyền thông độc lập, song hành với hệ thống truyền thông chính thức, vốn luôn bị buộc phải tuân thủ “định hướng” và “kỷ luật tuyên truyền” mà chính quyền đặt ra.

Tuy chính quyền đã cố gắng tái lập trật tự trong thông tin trên Internet, chẳng hạn như ban hành Thông tư số 07 vào cuối năm 2008, cấm lợi dụng trang thông tin điện tử cá nhân để cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những nơi có thông tin nguy hại cho chính quyền, thậm chí, khi trả lời báo chí về Thông tư 07, ông Lưu Vũ Hải, Cục trưởng Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Internet, còn “chú thích” thêm: “Chủ các blog phải chịu trách nhiệm đối với tất cả những ý kiến của các blogger có ý kiến trong blog của mình” nhưng tất cả những nỗ lực đó đều thiếu hiệu quả.

Hệ thống blog vẫn là nơi có thể tìm thấy càng ngày càng nhiều thông tin, hình ảnh, suy nghĩ không bao giờ có trên hệ thống truyền thông được xem là chính thống. Thậm chí hệ thống blog còn có thêm sự góp mặt của khá nhiều blogger đang mang thẻ hành nghề do Bộ Thông tin - Truyền thông cấp phát.

Nhận định về tương quan, cũng như tác động giữa báo chí và blog, một nhà báo tên Trương Duy Nhất, kể trên blog của ông: “Hôm qua, một bạn đọc là sinh viên nhận xét, blogger Trương Duy Nhất hay ho, thú vị hơn... nhà báo Trương Duy Nhất! Nói thế thì khác gì mắng nhau!”. Cũng trên blog vừa dẫn, nhà báo Trương Duy Nhất thắc mắc: “Càng ngày càng thấy nhiều nhà báo viết blog. Càng ngày càng thấy nhiều người chen nhau đọc blog đến nghẽn mạng. Đấy là dấu hiệu buồn hay vui?”.

Lạm dụng yếu tố “ổn định chính trị

Khoan bàn đến buồn – vui, xin quay lại với quan niệm, cách quản lý, lối hành xử của chính quyền đối với hệ thống truyền thông. Có khá nhiều người đã lạm dụng yếu tố “ổn định chính trị” để trục lợi và có thể chọn trường hợp tờ Đại Đoàn Kết như một ví dụ.

Khoảng cuối năm 2007, nhiều trang web Việt ngữ trên Internet giới thiệu một lá thư gửi lãnh đạo Đảng, ghi tên người viết là Lý Tiến Dũng – Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết. Trong thư, ông Dũng chỉ trích hết sức gay gắt cá nhân ông Hồng Vinh, Phó Ban tuyên giáo Trung ương “đã từng vì lợi ích cá nhân, cản trở báo chí không cho đăng tải tin tức về một vụ hiếp dâm trẻ con (vụ án Lương Quốc Dũng, Phó Chủ nhiệm ủy ban Thể dục thể thao quốc gia) thì không thể có tư cách giáo dục tư tưởng đối với người khác, huống chi là giữ vị trí quản lý báo chí” và Ban Tuyên giáo Trung ương, nơi có “quá nhiều người làm không được việc, không được đồng chí và nhân dân ủng hộ ở các nơi khác”.

Sau thư kể trên, giữa tháng 1 năm 2008, báo chí trong nước đưa tin, Ban Bí thư Trung ương Ðảng vừa có quyết định để ông Hồng Vinh và ông Ðào Duy Quát thôi giữ chức phó Ban Tuyên giáo Trung Ương. Khoảng mười tháng sau, ông Lý Tiến Dũng bị “cảnh cáo” rồi bị buộc phải “chuyển công tác” vì “vi phạm kỷ luật tuyên truyền”.

Trong khi ở Việt Nam, muốn được bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo cơ quan báo chí, người ta phải có “phẩm chất chính trị” tốt, bao gồm: “lý lịch trong sạch”, “lập trường vững vàng” và đủ “trình độ chính trị” thì ông Đinh Đức Lập, người được chọn để thay ông Lý Tiến Dũng làm Tổng biên tập lại là người từng dùng bằng “trung cấp chính trị” giả để chứng minh “trình độ chính trị” của mình, nên bị chính báo chí chỉ trích không tiếc lời hồi tháng 3 năm 2001.

Hậu quả tất nhiên của những vướng mắc nhiều mặt vì nguyên nhân như đã kể, được ông Nguyễn Vạn Phú, Thư ký tòa soạn Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, khái quát tại Đại hội Hội Nhà báo TP.HCM, hồi tháng 2 năm nay: “Không ít lần cơ quan quản lý báo chí tỏ ra rất thiếu chuyên nghiệp, thể hiện rõ nhất là việc ra lệnh không đăng tin này, bỏ tin kia, không đề cập đến vấn đề này, không bàn vấn đề kia mà không có giải thích thỏa đáng. Ðã có nhiều lần cơ quan quản lý báo chí tỏ ra chậm chạp trong phản ứng trước các vấn đề thời sự. Trong thời đại thông tin ngày nay, sự thiếu chuyên nghiệp đó đã tạo ra một khoảng trống thông tin bị lấp ngay bởi thông tin không chính thống, tạo ra những luồng dư luận ngược chiều không đáng có.”

Thật ra, tự thân “ổn định chính trị” vốn là điều hết sức cần thiết. Không có “ổn định chính trị” sẽ không thể phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chỉ có thể có “ổn định chính trị” thật sự khi nó phát xuất từ nhu cầu và nỗ lực chung của dân chúng. Khi “ổn định chính trị” chỉ là cách mà chính quyền dùng để biện minh cho việc áp đặt các phương thức quản lý, để đạt những mục tiêu của riêng mình thì không bao giờ có thể tránh được rắc rối, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền thông…

Một nhà thơ tên Nguyễn Tấn Cứ nhận xét:

“Tôi nghĩ thế kỷ này rất lạ. Đó là thế kỷ của mở rộng tòan cầu, của Internet, của thông tin. Ở đâu đó cấm thông tin, bưng bít thì thông tin vẫn xì ra ở chỗ khác. Cho nên sự bưng bít đó vô nghĩa, càng bưng bít càng vô nghĩa.”

Thực tế cho thấy, dù rằng quyền được thông tin, quyền được phát biểu ý kiến chỉ tồn tại như khẩu hiệu, công chúng nói chung, nhà báo nói riêng, thậm chí cả cán bộ, đảng viên vẫn tự giành lấy những quyền đó theo cách của họ.

Đâu phải tự nhiên mà thông tin, hình ảnh, âm thanh, văn bản thuộc dạng cấm kỵ xuất hiện mỗi ngày một nhiều trên Internet. Chúng chính là những bằng chứng sinh động và rõ ràng nhất.


Bài của Trân Văn


Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2009

Bào mòn uy tín truyền thông có giữ được “ổn định chính trị”?_Phần 1



Bài của Trân Văn

Đến nay, Đảng và chính phủ Việt Nam vẫn xem việc duy trì sự “ổn định chính trị” là yếu tố đặc biệt quan trọng trong tiến trình cải cách để phát triển kinh tế và việc “tăng cường quản lý lĩnh vực thông tin, tuyên truyền”, được xác định như phương thức tối ưu để “giữ vững sự ổn định chính trị”.

Tuy nhiên, đã và đang có nhiều dấu hiệu cho thấy, cung cách quản lý, điều hành hệ thống truyền thông ở Việt Nam lại đang là nguyên nhân tạo ra nhiều bất ổn, đe dọa sự “ổn định chính trị” mà Việt Nam muốn giữ.

Lọat bài “Bào mòn uy tín truyền thông có giữ được ổn định chính trị?”, với ba kỳ, do Trân Văn thực hiện, sẽ mô tả các nỗ lực quản lý lĩnh vực thông tin, tuyên truyền, đang đe dọa mong muốn duy trì sự “ổn định chính trị” của Việt Nam hiện nay như thế nào.

Tổ chức, quản lý truyền thông

Việt Nam hiện có khỏang 700 cơ quan báo chí, bao gồm báo in, đài phát thanh, đài truyền hình, với khỏang 15.000 nhà báo được Bộ Thông tin – Truyền thông cấp thẻ hành nghề.

Tất cả các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều có cơ quan chủ quản, hoặc là tổ chức đảng hay cơ quan công quyền, hoặc là các đòan thể, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của trung ương hay địa phương.

Ngòai việc phải chấp hành sự chỉ đạo, sắp xếp của cơ quan chủ quản, các cơ quan báo chí ở Việt Nam còn bị giám sát bởi “Ban Tuyên giáo” của Trung ương Đảng và “Ban Tuyên giáo” của các địa phương, nếu cơ quan chủ quản của họ là những đơn vị trực thuộc tỉnh, thành phố.

Ban Tuyên giáo là tên gọi mới nhất của bộ phận thay mặt Đảng theo dõi, chỉ đạo những lĩnh vực tác động đến “tư tưởng, nhận thức” của công chúng.

Gần đây, sau hàng lọat nỗ lực “cải cách hành chính”, các cơ quan báo chí ở Việt Nam còn được cả Bộ Thông tin Truyền thông của chính phủ và các Sở Thông tin Truyền thông của địa phương tham gia “theo dõi, chỉ đạo”.

Hàng tuần, hàng tháng, lãnh đạo các cơ quan báo chí lần lượt được Ban Tuyên giáo của Trung ương Đảng và Bộ Thông tin Truyền thông của chính phủ triệu tập để nghe nhận xét – đánh giá về họat động tuyên truyền của báo giới trong tuần, hoặc trong tháng đã qua, cũng như nghe phổ biến chủ trương, định hướng tuyên truyền trong tuần, hoặc trong tháng sắp tới.

Nếu có cơ quan chủ quản là những đơn vị trực thuộc tỉnh, thành phố, các cơ quan báo chí còn phải tham dự thêm những cuộc họp tương tự do Ban Tuyên giáo và Sở Thông tin – Truyền thông của địa phương tổ chức.

Đảng toàn quyền sinh sát

Bởi xem “tư tưởng – nhận thức” là một “mặt trận quan trọng”, ngòai hệ thống cơ quan chủ quản - tuyên giáo - thông tin và truyền thông, việc bổ nhiệm những cá nhân lãnh đạo các cơ quan báo chí luôn được xem xét cẩn thận và thực hiện theo qui trình hết sức nghiêm ngặt, trải qua nhiều buớc và thường thì luôn phải có sự đồng ý của tất cả những cơ quan có liên quan như đã kể.

Đáng ngạc nhiên là được quản lý chặt, được nhắc nhở thường xuyên nhưng càng ngày, càng có nhiều cơ quan báo chí cũng như lãnh đạo cơ quan báo chí bị xem là đã phạm những “sai lầm nghiêm trọng”, phải “xử lý nghiêm khắc”.


Năm ngóai, con số nhà báo, cơ quan báo chí bị kỷ luật lập kỷ lục chưa từng có. Ðầu tiên là hai ông Huỳnh Sơn Phước và Trương Quang Vĩnh, cùng là Phó Tổng Biên tập tờ Tuổi Trẻ TP.HCM, không được “tái bổ nhiệm”.

Đến tháng 5, tới lượt phóng viên Nguyễn Văn Hải của tờ Tuổi Trẻ và phóng viên Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên bị khởi tố, bị tạm giam rồi bị kết án vì “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Sang tháng 8, các ông: Bùi Văn Thanh - Phó Tổng biên tập tờ Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Quốc Phong - Phó Tổng biên tập tờ Thanh Niên, Huỳnh Văn Sánh -Tổng thư ký tờ Thanh Niên, Dương Ðức Ðà Trang - Trưởng Văn phòng đại diện của tờ Tuổi Trẻ tại Hà Nội, cùng bị thu hồi thẻ hành nghề, bị cách chức vì liên đới trách nhiệm với sai phạm của hai phóng viên đã kể.

Trong đợt trừng phạt đó, còn một phóng viên tên là Trần Đình Dũng, của Báo Khoa học và Đời sống, bị thu hồi thẻ hành nghề do thực hiện một phóng sự ảnh, chụp các quan chức Việt Nam ngủ gật trên chuyên cơ chở ông Nguyễn Tấn Dũng công du Hoa Kỳ hồi tháng 6.

Ít tháng sau, có thêm hai ông Lý Tiến Dũng, Tổng biên tập và Ðặng Ngọc, Phó Tổng biên tập tờ Ðại Ðoàn Kết cùng bị cách chức vì “vi phạm kỷ luật tuyên truyền”.

Cuối năm, đến lượt ông Lê Hòang, Tổng biên tập tờ Tuổi Trẻ và ông Nguyễn Công Khế, Tổng biên tập tờ Thanh Niên bị buộc rời khỏi chức vụ lãnh đạo hai tờ báo này. Đó là chưa kể, trong năm 2008, còn hơn 20 cơ quan báo chí bị phạt tiền.

Tuy rất nhiều người cùng nghĩ như nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ:

“Báo chí của nhà nước là công cụ thông tin của Đảng. Những điều Đảng cho nói thì chắc chắn họ phải nói. Điều gì không cho phép thì họ không được nói. Cho nên đối với trong nước, tự do thông tin là điều không thể bàn được. Luật Báo chí giống như luật đi đường, anh đi trật thì họ phạt.

Đối với báo chí, điều này rất đơn giản, các Tổng biên tập đều là đảng viên. Nếu là đảng viên mà tôi bảo anh không nghe thì tôi cách chức! nhưng cách đối xử với báo giới như thế, vẫn khiến nhiều tầng lớp trong xã hội tại Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia, tổ chức bên ngòai Việt Nam xúc động và phản ứng.”

Những phản ứng đó có khiến chính quyền chùn tay, thậm chí chính quyền minh định rằng là sẽ tạo điều kiện cho báo chí họat động tốt, song gần đây lại xảy ra thêm hai sự kiện đáng chú ý khác.

Ngày 14 tháng 4 năm nay, Bộ Thông Tin – Truyền Thông công bố quyết định đình bản tờ Du Lịch trong ba tháng để “củng cố, kiện toàn tổ chức và nhân sự lãnh đạo của tờ báo” vì không chấp hành chỉ đạo, cho đăng những thông tin vi phạm nghiêm trọng Luật Báo chí, trên số báo Xuân 2009.

“Vi phạm nghiêm trọng” đó là gì? Trong một cuộc phỏng vấn do Đài chúng tôi thực hiện, ông Nguyễn Quốc Thái, Trợ lý Phó Tổng biên tập phụ trách tờ Du Lịch, giải thích:

“Nói về những bài trong số báo Xuân, trong đó có bài “Tản mạn đảo xa” của phóng viên Trung Bảo. Chúng tôi thấy rằng bài “Tản mạn đảo xa” chỉ thể hiện bức xúc, buồn phiền của một công dân khi quốc gia bị quốc gia khác xâm lấn quê cha, đất tổ của mình. Một biểu lộ về long yêu nước như vậy không nên bị kết án.”

Hai ngày sau khi quyết định tạm đình bản tờ Du Lịch được công bố, ngày 16 tháng 4, tờ Tuổi Trẻ đột ngột ngắt ngang lọat bài viết về hiện tượng công nhân Trung Quốc tràn sang Việt Nam, với lý do phóng viên “viết không kịp” dù không ai tin đó là lý do thật.

-------------------------------

Một nhà báo tên là Huy Đức, từng nhận xét trên blog mang tên Osin về cách hành xử của chính quyền với báo giới: Đa số những tờ báo mà chính quyền hiện thời đang ra tay chấn chỉnh, đều tự hạch toán kinh doanh, có những tờ báo đã nộp hàng trăm tỷ đồng tiền thuế cho nhà nước.

Những tờ báo ấy từ lâu đã sống và phát triển bằng tiền bạc của nhân dân nhưng trên thực tế, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân không nhiều lắm.

Những tiếng nói thẳng thắn trên báo chí, chủ yếu, làm cho người dân tin tưởng nhiều hơn ở chính quyền và Đảng (về quyết tâm chống tham nhũng và dân chủ tự do). Niềm tin mà báo chí tạo ra ấy đôi khi đã giúp “xả” những ức chế trong dân và “tháo” được rất nhiều “ngòi nổ”.

Những niềm tin như vậy, liệu có còn không khi mà sau đợt xử lý báo chí hiện nay, chỉ còn lại những tờ báo chỉ biết ngoan ngoãn cúi đầu.

Khi hệ thống truyền thông chỉ còn những tờ báo ngoan ngõan cúi đầu như mong muốn của chính quyền, chính quyền có giữ được sự “ổn định chính trị” như mình muốn? Đó sẽ là nội dung phần 2 của lọat bài này.


Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2009

LỜI BỘC BẠCH CỦA MỘT ĐẢNG VIÊN

Bài viết sau đây là của 1 đảng viên đảng Cộng sản Việt nam bức xúc trước nạn tham nhũng và dối trá đang tràn lan trong nội bộ đảng. GTC mạn phép đăng lại để phổ biến cho nhiều người được biết sự thật trong lòng đảng Cộng sản Việt nam


Lâu nay tôi không viết blog, không comment vì tôi sợ. Tôi nghe được những thằng bạn làm bên an ninh nói rằng đang thực hiện những chỉ thị của cấp trên rất quyết liệt để tìm ra dấu vết tông tích của những blogger “có vấn đề” để có cách xử lý thích đáng. Tôi thực sự sợ, có lẽ là tôi hèn nhát. Nhưng hôm nay tôi muốn viết, tôi buộc phải viết, tôi không giải thích được tâm trạng của mình lúc này, nhưng tôi cảm nhận rõ ràng một sự thôi thúc phải nói ra những gì mình suy nghĩ cho nhiều người đọc. Sự thôi thúc đó đến từ đâu tôi cũng không chắc, nhưng thật tình là tôi vẫn rất run sợ khi post bài này, tôi không phải là người dũng cảm, nhưng tôi thấy mình cần làm điều đó. Và tôi cũng chỉ có nơi này để viết, để nói ra được sự thật, blog là nơi duy nhất ở xã hội này người ta có thể nói thật, còn lại đều là một cuộc sống dối trá với chính mình và mọi người.


Tôi đã gần 50 tuổi, đang làm cho một viện nghiên cứu của Nhà nước, đã được 15 năm tuổi Đảng. Thật lòng là tôi đã nghĩ đến việc ra khỏi Đảng nhưng lại không dám thực hiện, tôi không đủ can đảm và mạnh mẽ để chấp nhận một cách kiếm sống mới hoàn toàn mà tôi không tự tin với nó. Mà bỏ Đảng thì chỉ còn cách bỏ cơ quan. Đã suy nghĩ rất nhiều cách mưu sinh khác nhưng vẫn không thấy cái nào là được. Các con tôi phải còn vài năm nữa mới có thể tự lo được. Lương hai vợ chồng cộng lại mới hơn chục triệu. Riêng tôi mỗi năm được thêm vài công trình nghiên cứu, chia ra cũng được khoảng 30-40 triệu đồng. Cái này chính là bổng lộc mà cấp trên ban phát vì nghiên cứu cho có, xong cho vào tủ, chủ yếu là viết theo ý muốn cấp trên rồi lập hội đồng khen nhau mấy câu, thế là xong. Giàu thì chủ yếu là các sếp lớn vì đề tài nào các sếp cũng có tên để chia tiền dù chẳng làm gì, có khi cũng chẳng nhớ nổi cái tên đề tài. Còn chưa kể những thứ quyền lợi mua sắm khác. Nói chung là nếu lên được trưởng phòng thì không phải lo tiền bạc, người ta cúng cho mình. Do vậy mà trong nội bộ người ta đấu đá giành giật nhau ghê lắm, vào Đảng cũng chỉ hy vọng lên được chức cao hơn. Nói thật là ngày xưa tôi vào Đảng cũng với động cơ như thế, nhưng không nghĩ rằng như thế chỉ mới là cái bắt buộc sơ đẳng, muốn ngoi lên được đòi hỏi phải nhiều thủ thuật lắm, và phải biết luồn cuối thật giỏi, chà đạp người khác mà không bị cắn rứt. Mà cả 2 cái này tôi đều dỡ, có lúc thấy phải làm nhưng làm cũng không đạt yêu cầu. Chuyên viên như tôi (dù là được xếp vào ngạch cao câp) bây giờ toàn phải nói vẹt, nói dối đến mức mất tư cách mà chẳng biết phải làm sao. Giờ mới thấy mình hèn nhưng đã muộn. Tự an ủi trấn an mình “mưu sinh mà, thôi đành vậy…”

Những người Đảng viên như tôi mình bây giờ chiếm đa số tuyệt đối trong Đảng, đến 95%. Hồi tháng 4 năm ngoái, tôi được đọc một bản nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội, đây là tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính Trị . Qua đó nói rõ rằng Đảng viên bây giờ đều chán nãn và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa Cộng Sản và học thuyết Mác Lê-Nin nữa, Đảng viên chỉ hy vọng vào sự đổi mới của Đảng. Nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, đang đi vào ngõ cụt. Hầu hết những Đảng viên như tôi bây giờ đều mong muốn một sự thay đổi, nhưng họ lại sợ thay đổi. Lý do quan trọng nhất là họ sợ bị trả thù như lịch sử đã từng xảy ra, như Đảng đã từng làm, họ nghe thấy sự hung hăng và cực đoan của các Việt Kiều qua các lần biểu tình chống đối người trong nước qua làm họ sợ. Rồi kiểu tuyên truyền của Đảng cũng tăng thêm điều đó, nếu bạn là Đảng viên, đi họp sinh hoạt Đảng thì sẽ nghe thấy những lời lẽ cảnh báo rất nặng nề, nào là các thế lực thù địch, nào là sẽ không đội trời chung với Đảng viên, âm mưu diễn biến hòa mình có thể mất nước v.v..

Nhưng cái làm xói mòn niềm tin ở Đảng nhất là tham nhũng và đặc quyền thì Đảng chẳng có một biện pháp hiệu quả nào ngăn chặn, nếu không muốn nói là Đảng phải duy trì nó để sống và để cai trị quan chức. Cơ quan tôi và nhiều nơi khác suốt ngày bàn tán về việc ông Lê Thanh Hải đã chi ra cả trăm tỷ đồng để hối lộ cho những vị ủy viên Bộ Chính Trị vào TpHCM để xem xét việc cách chức ông ta vì dính đến vụ PCI. Giờ ông ta tuyên bố với đám đàn em kinh tài là vững như bàn thạch vì không những thế, Thủ Tướng còn nhận của ông ta mấy triệu đô la nữa. Giờ là lúc ông ta ra sức vơ vét và tạo điều kiện cho các đàn em kinh tài vơ vét để bù lại những gì đã phải chi ra để chạy cho ông ấy. Những chuyện này giờ đây tồn tại như một sự tất yếu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Tôi đang đứng trước một trạng thái chông chênh, giữa những lựa chọn không dễ dàng: theo hiện trạng và thói xấu của xã hội để sống dễ dàng hoặc thay đổi để ko theo nó, hay tham gia vào những sự thay đổi của người khác làm xã hội tốt hơn. Tôi muốn 2 cái sau nhưng nhiều lần đã không vượt qua được chính mình. Hàng này tôi bị buộc phải học và thực hành theo gương và đạo đức HCM nhưng toàn là những gì đạo đức giả và ngụy quân tử. Tôi là người luôn kính trọng Chủ Tịch HCM ngay cả khi đã đọc được những mặt trái của Bác. Tôi giữ thái độ đó vì tôi cho rằng Bác là một con người. Nhưng cách mà Đảng đang tuyên truyền về hình ảnh và đạo đức của Bác, bắt mọi người học tấm gương của Bác là cách mà người ta thường làm để ca ngợi những vị giáo của các tôn giáo. Thật đáng buồn là những điều như vậy chẳng những không làm tôn lên hình ảnh của Bác mà ngược lại, vì Bác không có những điều cần thiết của một giáo chủ tôn giáo. Thời buổi bây giờ không còn là những thế kỷ trước, thông tin quá nhiều, nhanh và dễ kiểm chứng thì không thể tạo ra những myth (huyền thoại) để dẫn dắt lòng tin của mọi người được. Tôn giáo được tạo ra từ các myth vốn là những hiểu biết sai lầm, có thể là dối trá nhưng lại mang ý nghĩa huyền thoại, thần thoại. Người ta đang làm cho hình ảnh Bác ngày càng trở nên méo mó và dối trá.

Gần đây tôi bắt đầu tin dần vào những gì vô hình như là định mệnh, số phận, vận nước, ... Không tìm thấy căn cứ khoa học nào, nhưng có lẽ niềm tin là tâm linh, không phải biện chứng khoa học. Do vậy, tôi cũng hy vọng như nhiều người dân đang hy vọng, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho vận mệnh của đất nước. Tôi muốn nói với những người muốn mưu sự lớn và thực sự vì đất nước nhân dân, hãy nhắm vào những gì thiết thực nhất vì cuộc sống của đa số người dân, đừng có giương ngọn cờ dân chủ nhân quyền làm mục đích chính, những điều đó với người dân còn xa vời lắm. Chính quyền hiện này dù làm ra vẻ chống đối và mạnh tay với những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền; giả bộ như là sợ những điều đó đe dọa sự cầm quyền của họ nhưng thực ra họ rất mong muốn những những người đấu tranh này lao vào những mục tiêu như vậy vì chúng chẳng thể nào thu hút quần chúng trong vài chục năm nữa. Họ ra vẻ cái này là gót chân Achile của Đảng nên phản ứng rất dữ dội, làm cho những người đấu tranh cứ tưởng thật là mình đã nhắm vào đúng tử huyệt của đối thủ và cứ thế hút đầu vào đá. Những gì thiết thực đối với quần chúng thì rất nhiều, nhiều vô kể, không thể nhắm đến hết tất cả một lúc được. Những con người sáng suốt sẽ nhận ra một vài điểm thật quan trọng từ những nhu cầu này, nhấn mạnh nó, giương nó lên làm ngọn cờ để tạo ra động lực cho đa số dân chúng thì mới có thể tạo ra lực lượng và thế lực thay đổi cái hiện nay được. Điều đáng mừng là một vài năm gần đây đã thấy xuất hiện vài người có tầm nhìn như vậy, không lao vào những khẩu hiệu dân chủ nhân quyền mà nhìn được những mấu chốt từ những gì rất thiết thực. Tôi có hân hạnh được trao đổi với những người như vậy trên blog và cảm nhận được sức mạnh tư duy của họ cho dù họ không nói gì về điều đó.

Nếu ai muốn copy bài này để phổ biến thì cứ tự nhiên làm đừng hỏi ý kiến tôi. Mà cũng mong các bạn hãy làm điều đó vì có thể một ngày nào đó, tôi không đủ sự can đảm, không vượt qua nổi sự hèn nhát nên sẽ xóa hẳn cái blog này. Tôi đã từng nghe cánh an ninh nói rằng sẽ dựa vào quan hệ của con rễ Thủ Tướng, là Việt Kiều trong giới tài phiệt, can thiệp với Yahoo để “lôi ra ánh sáng” kẻ nào là Change We Need để trị tội vì đã “vu khống” thanh danh của gia đình “phò mà”. Chuyện ấy cũng vài tháng nay rồi nhưng vẫn thấy Change tiếp tục viết bài, có thể là họ không làm được, và cũng có thể là chưa làm được. Nếu một ngày nào đó mọi người thấy blog này biến mắt hẳn thì xin hãy hiểu và thông cảm cho tôi. Tôi rất biết ơn ai đó copy bài này về blog của mình để những gì tôi viết còn lưu lại được.

Đa số Đảng viên và quan chức hiện nay đều hèn nhát như tôi vậy, những người dũng cảm có tư cách thì rất ít, những người này đều không lên cao được. Những kẻ chức vụ càng cao thì không những hèn mà còn nhát, thượng đội hạ đạp. Bản chất bọn chúng là những kẻ sợ sệt đủ thứ, chúng chỉ hung hăng khi nắm quyền lực trong tay và đối xử thô bạo với kẻ dưới hoặc những người không có chút quyền gì. Tôi đảm bảo rằng, khi có một sự thay đổi bọn người này là những kẻ trốn chạy đầu tiên hoặc quay ngoắc tức thì theo lực lượng mới. Bọn chúng đa số (tôi là thiểu số) đều là những kẻ giàu có, giờ thì lắm tiền nhiều của, sợ chết và sẵn sàng trở thành kẻ phản bội cho người khác sai bảo nếu được đảm bảo rằng không làm gì bọn chúng.

Sự sụp đổ và thay đổi là chắc chắc và không thể tránh khỏi, nhiều người bảo rằng sẽ rất nhanh, nhưng cũng có người bảo rằng sẽ chưa thể trong một hai năm nữa. Tôi thì nghĩ điều đó không tùy thuộc vào Đảng, vào Chính quyền nữa, cái này ngoài khả năng của họ rồi. Nó tuỳ thuộc vào lực lượng thay đổi có thể hành động lúc nào thì lúc đó sẽ có sự thay đổi. Còn thay đổi như thế nào thì lại tuỳ thuộc vào cái lực lượng này có muốn làm điều tốt cho người dân hay không. Thật là khủng khiếp nếu đất nước này tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.

Hãy tha thứ cho tôi nêu ai đó vô tình bị xúc phạm từ những điều tôi viết, nhưng tôi vẫn tin những người đó rất ít, đếm trên đầu ngón tay. Tạm biệt mọi người, cũng có thể là vĩnh biệt…. Chúc mọi người vui khỏe và an toàn, chúc Việt Nam thay đổi tốt đẹp.


Tôi đã thực sự ân hận vì đã vào Đảng.






Bài viết được lấy từ blog của Psonkhanh